A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ngày Lễ Độc lập qua con mắt của một sỹ quan tình báo Mỹ

 

QPTĐ-Thiếu tá Archimedes L.A Patti, tác giả cuốn sách “Why Viet Nam” là một sỹ quan tình báo Mỹ. Ông đã có mặt và chứng kiến những biến động lịch sử ở Việt Nam vào thời điểm quyết định của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, cũng là bước ngoặt quyết định của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Trong Ngày Lễ Độc lập (2-9-1945), tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, L.A Patti đã được chứng kiến giây phút linh thiêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sự kiện lịch sử này được ông miêu tả chi tiết, sinh động trong cuốn sách “Why Viet Nam”.

Quảng trường Ba Đình Ngày Lễ Độc lập 2/9/1945. (Ảnh: Tư liệu)

“…Ngày Chủ nhật đầu tiên trong tháng Chín là ngày lễ các thánh tử vì đạo của riêng hơn một triệu dân theo Thiên Chúa giáo ở Bắc Việt Nam. Có thể cũng là một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã chọn ngày đó làm Ngày Lễ Độc lập. Tại các nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng như các nhà chùa Phật giáo, buổi lễ vẫn tiến hành long trọng, các bài thuyết pháp có thêm ý nghĩa chính trị ủng hộ Chính phủ mới thành lập và nền độc lập của Việt Nam.
Từ sớm tinh mơ, dân chúng Hà Nội như các bầy ong, từng đoàn lúc lớn lúc nhỏ, lũ lượt dần dần kéo đến cạnh Quảng trường Ba Đình.

Ở nhiều chỗ là một khối dân chúng các làng ngoại ô. Đi theo trong biển người đó, có cả những toán nhân dân miền núi với y phục địa phương của họ và nông dân trong những bộ khăn áo cổ truyền.

Giữa các khối khác nhau, người ta dễ dàng nhận ra các tổ chức của công nhân, sơ mi trắng, quần dài hoặc quần soóc trắng hoặc xanh. Phụ nữ mặc áo dài trắng hay màu sáng, tay khoác nón.

Cho đến tận trưa, cả toán OSS chúng tôi lăn lộn ngoài phố, chụp ảnh, ghi chép về các nhóm người, các sự kiện, các khẩu hiệu, biểu ngữ, áp phích… Có nhiều khẩu hiệu bằng tiếng Pháp, Anh, một số bằng tiếng Việt Nam: “Việt Nam của người Việt Nam”, “Hoan nghênh Đồng Minh”, “Hoan nghênh Phái đoàn Mỹ”, “Thà chết, không nô lệ”…

Khoảng trưa, Knapp, Bernique, Grelecki và tôi đi về phía Quảng trường Ba Đình. Tôi đã quyết định từ chối lời mời của ông Hồ đến khu vực Lễ đài dành cho quan khách, để đi xem buổi Lễ như một người quan sát trong quần chúng. Chúng tôi chọn được một địa điểm thuận lợi ngay trước Lễ đài, giữa đám viên chức địa phương.

Trong khi chờ đợi ông Hồ và các quan chức tùy tùng tới, tôi nhìn thấy một toán cố đạo Thiên Chúa giáo mặc áo thầy tu trắng và xanh đen, có cả chức sắc mang khăn quàng và giải viền đỏ.

Cách họ không xa, là các nhà sư Phật giáo khoác cà sa màu da cam, rồi đến các chức sắc Cao Đài, áo dài trắng có tua và khăn quàng sặc sỡ.

Đội danh dự và công tác bảo vệ được giao cho bộ đội của Võ Nguyên Giáp và Chu Văn Tấn, lực lượng được huấn luyện, trang bị, có kỷ luật nhất của họ. Mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao, họ trưng bày các vũ khí mới một cách hãnh diện, lúc trong tư thế “đứng nghiêm”, lúc “nghỉ”. Ở đó còn có các đơn vị “tự vệ”-dân quân, mặc lẫn lộn quần áo nhà binh Pháp hoặc Nhật hoặc quần áo ngắn xanh hay đen, mang theo mọi loại vũ khí cũng lộn xộn từ súng kíp, gươm, dao dựa, mã tấu có cán gỗ dài và cả gậy tày…, có thứ hình như họ mới lấy ở đình, chùa ở các làng ra. Tất cả dựng lên một cảnh tượng sinh động và kinh hoàng (Ước lượng khoảng 500 hoặc 600 ngàn người, theo không ảnh của Mỹ chụp ngày hôm đó).

Mặt trời đã lên cao. Không khí oi bức. Nhưng đôi lúc cũng có cơn gió nhẹ thổi làm phất phới cả cái biển cờ trên Quảng trường. Cao trên cột trước Lễ đài, lá cờ đỏ với ngôi sao vàng lớn phấp phới bay.

Bất chợt có tiếng còi và các hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng và chăm chú theo dõi có người đã bắt đầu xuất hiện trên Lễ đài. Mấy phút sau, nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào!”. Quần chúng bỗng im lặng trong khi các vị chức quyền tìm chỗ đứng vào đường sau cái bao lớn được trang trí bằng màu trắng và đỏ. Trên Lễ đài, mọi người đều bận đồ trắng, thắt cavát và để đầu trần, trừ một người nhỏ nhắn mặc áo kaki màu sẫm và có cái gì như là cái khăn trùm đầu-Đó là Hồ Chí Minh.

Lê Xuân, nguyên là người liên lạc của chúng tôi đã đến và sẵn sàng bình luận, nhận xét. Ông cũng đã đi một vòng và cho rằng, quần chúng hết sức tò mò và quan tâm đến vị lãnh đạo “mới” của Chính phủ. Mọi người đều muốn biết “ông Hồ Chí Minh bí ẩn” này là ai? Ông ở đâu về?.

Nhưng không phải chỉ có người Việt Nam mới không quen thuộc với cái tên đó đâu. Ngay cả đến cơ quan Bộ Ngoại giao chúng ta (tức Bộ Ngoại giao Mỹ) ở Côn Minh và Trùng Khánh cũng không biết gì về vấn đề này, mặc dù đã có nhiều báo cáo cụ thể của tôi. Một tháng sau, khi đọc công văn của Sprouse, lãnh sự ở Côn Minh, tôi ngạc nhiên thấy còn nói đến “Hồ Chí Minh”. Lúc đó ai cũng nghĩ rằng đã biết tên thật của ông Hồ.

Một tiếng trong loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, giới thiệu “ông Hồ là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng được hướng dẫn của các đảng viên, lên tiếng hát và trong mấy phút liền hô vang “Độc lập”. Ông Hồ đứng yên mỉm cười, nhỏ nhắn trong tầm cỡ  nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc Bản Tuyên ngôn, nay trở thành nổi tiếng của ông với những lời: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho chúng ta những quyền bất khả xâm phạm, trong đó, có quyền sống, quyền được tự do và quyền được hưởng hạnh phúc”.

Ông Hồ dừng lại đột ngột và hỏi người nghe: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Quần chúng hô vang đáp lại: “Rõ!”. Thực là một nghệ thuật diễn thuyết bậc thầy! Từ lúc đó, quần chúng lắng nghe lấy từng lời. Chúng tôi không hiểu ông Hồ đã nói gì. Lê Xuân phải cố gắng lắm để dịch nhưng cũng rất khó khăn. Nhưng cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới quần chúng.

Ông Hồ tiếp tục: “Những lời nói bất hủ này là từ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776. Nói rộng ra điều đó có nghĩa là: Tất cả nhân dân trên trái đất này sinh ra đều bình đẳng; mọi dân tộc đều có quyền sống; hưởng hạnh phúc và được tự do”.

Sau đó, quay về bản Tuyên ngôn của Cách mạng Pháp 1791, nói về quyền con người và quyền công dân, ông Hồ nói Bản Tuyên ngôn đã công bố: Người ta sinh ra phải được tự do và có quyền bình đẳng. Đó là những chân lý không thể chối cãi được.

Đến khoảng hai giờ, ông Hồ kết thúc bản Tuyên ngôn và tiếp sau đó là Võ Nguyên Giáp nói về vai trò của Việt Minh, nhấn mạnh vào công tác của Đảng trong lĩnh vực chính trị-quân sự, phát triển kinh tế-xã hội, chương trình giáo dục và văn hóa…Sau bài diễn văn, các Bộ trưởng mới được chỉ định, từng người một được giới thiệu ra mắt nhân dân. Buổi Lễ kết thúc bằng việc các Bộ trưởng tuyên bố nguyện trung thành và triệt để ủng hộ Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…”.

P.Linh (Theo Why Viet Nam)
 


Tại sao Việt Nam (Why Vietnam)

Giữa lúc nước Mỹ chưa khỏi bàng hoàng bởi những gì đã diễn ra ở Việt Nam, chính giới Mỹ vẫn đang đau đầu với “hội chứng Việt Nam”, hòng giải đáp được câu hỏi “Tại sao nước Mỹ hùng mạnh bậc nhất thế giới lại thất bại thảm hại ở Việt Nam?” thì có một cuốn sách được xuất bản với một đầu đề cũng là một câu hỏi “Tại sao Việt Nam”(Why Viet Nam).

 

Nhưng nội dung của toàn bộ cuốn sách dày ngót 1.000 trang này lại chính là một câu trả lời. Câu trả lời ấy đã không đi thẳng vào những vấn đề còn đang nóng bỏng tính thời sự của thập kỷ 70 để giải đáp câu hỏi “Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam?” mà lại đi ngược thời gian lên thập kỷ 40 để giải đáp câu hỏi “Tại sao nước Mỹ đã từng sát cánh với những người cách mạng, những người cộng sản Việt Nam trên một trận tuyến chung chống chủ nghĩa phát xít?”.

Dương Trung Quốc

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Phóng sự ảnh
Dự báo thời tiết
Tỷ giá ngoại tệ