Mệnh lệnh từ trái tim-Ký ức sinh viên Thủ đô nhập ngũ 1971
QPTĐ-55 năm trước, giữa mùa Thu lịch sử 1971, gần 4.000 giảng viên và sinh viên Thủ đô đã tạm biệt giảng đường, xếp bút nghiên khoác ba lô lên đường nhập ngũ. Họ ra đi với khát khao cống hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Hơn nửa thế kỷ đã qua, tại buổi gặp mặt của những đồng đội năm xưa, câu chuyện về một thế hệ trí thức sống trọn vẹn với lý tưởng lại được sống dậy. Nhiều người trong số họ đã vĩnh viễn nằm lại dưới Thành cổ Quảng Trị khi tuổi đời còn rất trẻ. Những người may mắn sống sót trở về, giờ đây mái đầu đã bạc, vết thương chiến tranh còn in hằn trên thân thể, vẫn không nguôi nhớ về đồng đội và niềm tin với thế hệ trẻ hôm nay.

Tháng 9 năm 1971, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn vô cùng ác liệt. Sau thất bại đắng cay trong chiến dịch "Lam Sơn 719", đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược "Bình định cấp tốc", đồng thời leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc. Hơn bao giờ hết, yêu cầu bổ sung sức người, sức của cho tiền tuyến trở nên vô cùng cấp thiết.
Ngày 6/9/1971 trở thành một mốc đỏ trong lịch sử Thủ đô. Một đợt tuyển quân đặc biệt diễn ra với hàng ngũ tân binh là hơn 10.000 giảng viên và sinh viên đến từ 17 trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội. Đó là những người trẻ đang ở độ tuổi đẹp nhất của đời người: Có người vừa bước qua năm thứ nhất, người đang đứng trên bục giảng truyền thụ tri thức... Nhưng trước tiếng gọi của Tổ quốc, họ gạt đi những ấp ủ cá nhân, đồng lòng xếp lại bút nghiên, khoác lên mình màu xanh áo lính.
Sự kiện ngày ấy diễn ra ngay sau khi Hà Nội và các tỉnh Bắc bộ vừa gồng mình trải qua trận lũ lịch sử tháng 8-1971. Bất chấp khó khăn do mưa lũ và hạ tầng giao thông bị gián đoạn, không một ai vắng mặt. Nhiều sinh viên đã đi bộ, lội nước hàng chục cây số từ các vùng sơ tán để kịp có mặt tại điểm tập kết. Mệnh lệnh từ trái tim đã biến ngày lên đường thành một biểu tượng hào hùng cho ý chí sắt đá của tuổi trẻ Thủ đô "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Sau khóa huấn luyện cấp tốc, phần lớn những "chiến sĩ sinh viên" đều tham gia chiến trường Quảng Trị, nơi còn được mệnh danh là "tọa độ lửa" khốc liệt nhất năm 1972. Trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị dưới mưa bom bão đạn, họ đã chiến đấu bằng cả lòng quả cảm và trí tuệ. Hàng ngàn người con ưu tú mùa Thu năm ấy đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất Quảng Trị, gửi thân mình dưới dòng sông Thạch Hãn. Họ ra đi khi tuổi đời mới đôi mươi, mang theo những giấc mơ còn dang dở.

Năm tháng qua đi, chiến tranh đã lùi xa, đất nước hòa bình và phát triển. Giảng đường xưa vẫn ở đó, nhưng nhiều khoảng trống nơi ghế đá, hàng cây mãi mãi không thể lấp đầy. Hằng năm, trong những buổi hội ngộ, các cựu chiến binh, nay đã mái tóc bạc phơ, mang trên mình những vết thương chiến tranh, lại cùng nhau ôn lại một thời hào hùng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Ký ức về những người đồng đội đã ngã xuống không chỉ là nỗi niềm đau xót, mà còn là lời nhắc nhở, gửi gắm niềm tin đến thế hệ trẻ hôm nay: Hãy sống, học tập và cống hiến sao cho xứng đáng với lớp cha anh đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Ngày ấy, chúng tôi là những sinh viên trẻ, có bao hoài bão lớn lao. Tôi còn nhớ như in buổi sáng mùa Thu năm 1971, khi lệnh nhập ngũ được ban ra, cả ký túc xá sôi động hẳn lên. Không ai do dự, không ai nấn ná. Có những bạn từ quê lên vẫn còn ướt áo vì phải lội nước lụt hàng chục cây số để có mặt kịp giờ. Tại các điểm tập kết, tiếng hát vang lên giữa sân trường, những cái bắt tay thật chặt của bạn bè, những giọt nước mắt lặng lẽ của người thân tiễn đưa. Nhưng trên tất cả, trong mắt mỗi người lính sinh viên đều ánh lên quyết tâm sắt đá. Chúng tôi tự nhủ: 'Đã đi thì đi cho trọn, đã đánh thì đánh cho thắng'. Tôi tự hào khi nhìn lại thế hệ trí thức Thủ đô đã không hổ danh, đã sống xứng đáng với lý tưởng của tuổi trẻ. Tôi mong các bạn trẻ hôm nay hãy noi gương những người đi trước, sống có hoài bão, có chí khí, sẵn sàng cống hiến vì đất nước.

Tôi và các bạn sinh viên trường Sư phạm Ngoại ngữ khi ấy vừa học xong năm thứ nhất. Nhận được lệnh nhập ngũ, chúng tôi không hề bất ngờ mà ngược lại, còn háo hức, phấn khởi. Thời ấy, ba từ 'Lính sinh viên' nghe thật đẹp và thiêng liêng! Chúng tôi đã trúng tuyển đại học bằng chính năng lực của mình trong kỳ thi đầu tiên của miền Bắc. Giờ đây, chúng tôi lại ra trận với tư cách là những người trí thức có học vấn, điều đó khiến chúng tôi thêm tự tin và quyết tâm. Trước ngày lên đường, chúng tôi họp nhau, động viên, hẹn ngày chiến thắng sẽ gặp lại. Nhưng rồi chiến trường Quảng Trị khốc liệt quá. 81 ngày đêm ở Thành cổ, tôi chứng kiến biết bao đồng đội ngã xuống bên cạnh mình. Đại đội tôi, các bạn tôi hầu hết đã hy sinh, còn tôi sống sót sau ca phẫu thuật cắt 1/3 lá gan và mang trong người hơn 20 mảnh đạn. Tôi sống được là nhờ linh hồn các bạn tôi phù hộ, những người đã chiến đấu hết mình cho đến hơi thở cuối cùng. Tôi luôn nhắc mình: Sống là để tiếp tục làm những gì các bạn chưa làm được, sống cho xứng đáng với sự hy sinh của đồng đội.

Anh Thạc là con trai duy nhất trong gia đình, học rất giỏi, yêu văn chương và có ước mơ trở thành nhà văn. Năm 1971, vừa học xong năm thứ hai, anh đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Mẹ tôi buồn lắm, nhưng anh bảo: “Con đi để bảo vệ Tổ quốc, để sau này các em được sống trong hòa bình”. Trước ngày lên đường, anh vẫn miệt mài ôn bài, dạy các em học, không hề nao núng dù biết phía trước là bom đạn. Trong thư anh gửi về, luôn có những dòng tràn đầy niềm tin: “Mẹ và các em cứ yên tâm, con sẽ về. Rồi chiến thắng sẽ thuộc về ta”. Ngày 30/7/1972, chỉ ít ngày nữa anh tròn 20 tuổi, anh hy sinh tại ngã ba An Tiêm, Triệu Phong, Quảng Trị. Cuốn nhật ký anh để lại có dòng viết: “Nếu có hy sinh, tôi xin được hy sinh cho Tổ quốc thân yêu”. Tôi và gia đình luôn tự hào về anh. Anh đã sống trọn vẹn với lý tưởng, đã dâng hiến cả tuổi thanh xuân cho nền độc lập dân tộc. Những trang nhật ký 'Mãi mãi tuổi hai mươi' là minh chứng bất diệt cho quyết tâm của thế hệ trí thức trẻ ngày ấy.

55 năm, một chặng đường dài để chúng ta nhìn lại và tri ân. Những “người lính sinh viên” ngày ấy đã chứng minh cho cả thế hệ sau thấy rằng: Trí thức không chỉ làm việc với sách vở, mà còn có thể cầm súng bảo vệ Tổ quốc; người trí thức đích thực phải có trái tim yêu nước và tinh thần sẵn sàng hy sinh. Các bác, các chú đã khoác áo lính khi tuổi đời còn rất trẻ, tạm biệt giảng đường với quyết tâm “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Sự hy sinh ấy là bài học lớn cho sinh viên hôm nay, nhắc nhở chúng ta rằng nền hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng xương máu của biết bao người. Tôi muốn nhắn gửi tới các bạn sinh viên thế hệ mới: Hãy luôn khắc ghi công ơn của thế hệ đi trước. Hãy sống có lý tưởng, có hoài bão. Hãy học tập, rèn luyện để tiếp bước cha anh, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Đó là cách tốt nhất để tri ân những người đã trao cả thanh xuân cho độc lập, tự do của dân tộc. Hôm nay, chúng ta được học tập, được cống hiến trong hòa bình, đó là món quà vô giá mà các bác, các chú đã dành cho thế hệ chúng tôi.
Hải Yến-Phương Uyên


