Văn hóa - xã hội

Ký ức chiến trường         

; đăng: 08:47, 23/04/2019; công bố ngày: 00:00, 23/04/2019; truy cập 367 lượt;

 

QPTĐ-Đại thắng mùa Xuân năm 1975, một trong những chiến công to lớn trong thế kỷ XX của dân tộc Việt Nam-thiên anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh. Trong không khí cả nước kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2019), chúng tôi đã tìm gặp một nhân chứng lịch sử trên chiến trường. Mặc dù không chiến đấu trực tiếp nhưng công việc của bác đóng vai trò quan trọng để các đoàn quân thêm vững mạnh, đánh tan quân xâm lược trong suốt những năm trường kỳ kháng chiến.…Người chúng tôi muốn nói ở đây là Trung tá Bùi Ngọc Thanh, 78 tuổi, Nguyên Trưởng phòng Trị sự-Hành chính, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, hiện đang sống tại số 1, ngõ 42, đường Âu Cơ, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội. Bên tách trà trong ngày tháng tư lịch sử, khi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện trên chiến trường, bác vẫn nhớ như in về thời khắc khó khăn, ác liệt nhưng rất đỗi hào hùng.

 

 

Trung tá Bùi Ngọc Thanh.

 

Bác Thanh chậm rãi: “Tôi được vinh dự tham gia Chiến trường Tây Nguyên 10 năm, từ 1965-1975. Năm 1975, sau Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng, tôi khi ấy là Chính trị viên Tiểu đoàn 10-Vận tải, Quân đoàn 3 hành quân cùng Quân đoàn về Giải phóng Sài Gòn, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhiệm vụ của chúng tôi là phục vụ đạn và lương thực để bảo đảm cho quân đội thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Quân đoàn đi đến đâu, chúng tôi bám sát và thực hiện công tác phục vụ đến đó. Tiến vào Sài Gòn, khi đó kẻ địch yếu nhiều nên Quân đoàn đánh đến đâu, chúng rút lui đến đó. Giải phóng Sài Gòn xong, đơn vị chúng tôi có nhiệm vụ tiếp quản Sân bay Tân Sơn Nhất, thực hiện các nhiệm vụ như tiếp quản súng, đạn của địch để lại, sau đó gom vào các kho bảo quản, gìn giữ theo quy định của quân đội. Tôi nhớ ngày 30-4, khi được trên thông báo đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, tất cả anh em vô cùng sung sướng, suốt đêm hôm đó không ngủ được vì chiến thắng ấy to lớn quá; biết bao nhiêu năm lầm than, đói khổ, hy sinh xương, máu, bây giờ đất nước được giải phóng”. 

 


Truy kích địch trong Chiến dịch Tây Nguyên. 

Ảnh tư liệu


Sinh năm 1941 và lớn lên tại xã Minh Hoàng, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Năm 1965, sau khi tốt nghiệp phổ thông, bác Thanh trúng tuyển Đại học Bách Khoa. Nhưng cùng thời điểm đó, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, bác đã gác lại hành trang trở thành sinh viên để lên đường nhập ngũ. Sau rèn luyện 3 tháng tại Hoà Bình…, khi có lệnh của trên, bác cùng đồng đội vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Hành quân 3 tháng từ ngoài Bắc vào Tây Nguyên rồi bác ở lại đó suốt 10 năm.  


“Phải khẳng định chiến trường Tây Nguyên rất gian khổ và ác liệt. Hàng ngày, bom, đạn, chất độc hoá học rải khiến rừng trơ trụi. Đời sống của bộ đội rất khó khăn. Có thời kỳ, trung bình mỗi người chỉ ăn 2,5 lạng gạo/ngày, còn chủ yếu là sắn, khoai và lạc. Mà sắn, khoai dân cũng không cung cấp đủ, chủ yếu do mình tự cung, tự cấp là chính, bảo đảm sinh hoạt của bộ đội. Nếu cứ xuôi chèo thì không nói làm gì nhưng đằng này, Mỹ thường xuyên rải chất độc hoá học xuống các khu rừng nên mình phải lựa các khu vực chúng chưa chú tâm đến để phát nương, làm rẫy, tăng gia, sản xuất, thậm chí là săn thú rừng cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Nói chung, chúng tôi phải chấp nhận cuộc sống gian khổ như vậy song vẫn đảm bảo tốt việc phục vụ cho chiến trường, cho chiến đấu”, Bác Thanh khẳng định.


Ngừng đôi chút, bác Thanh trầm ngâm: “Nói về kỷ niệm sâu sắc trên chiến trường thì nhiều. Có khi cả đơn vị hành quân đi thì chưa bị địch mai phục nhưng khi về thì lại bị. Tôi nhớ nhất có 1 kỷ niệm năm 1974, khi Đại đội do tôi chỉ huy đang vận chuyển lương thực bằng xe thồ trên lưng (phục vụ trận Pleime) thì gặp một tổ phục kích. Về nguyên tắc khi gặp địch, tổ tiền tiêu đánh trả để các tổ phía sau di chuyển. Tôi là cán bộ Tiểu đoàn, đi sau hai bộ phận (tiền trạm và 1 bộ phận nữa). Lần đó, có mấy đồng chí trong tổ tiền tiêu hy sinh. Mặc dù rất đau xót nhưng tôi vẫn phải chỉ huy anh em đánh cho địch rút, sau đó mới tổ chức đến đưa thi hài anh em về mai táng. Nói là đưa về nhưng thực chất không đi xa được mà phải chôn cất anh em ngay gần đó. Nhưng xẻng thì nhỏ, trong khi ở đây toàn đá hộc nên không thể đào đất được sâu mà chỉ khoảng 30-40 phân”. Nói đến đây, giọng của người Trung tá già trùng xuống, nước mắt ngân ngấn. “Tìm thấy anh em còn là may mắn, nhiều đồng chí hy sinh, chúng tôi còn không tìm thấy xác, đau xót lắm!”.


Trong 10 năm công tác tại Tiểu đoàn 10-Vận tải, bác Thanh thực hiện nhiệm vụ: Phụ trách trung đội, đại đội, sau đó là Chính trị viên Tiểu đoàn. Nhiệm vụ của đơn vị là vận chuyển đá, lương thực, thực phẩm ra phía trước cho quân đội, đồng thời, lại vận chuyển thương binh từ phía trước về phía sau. Nghe thì có vẻ rất dễ nhưng suốt nhiều năm, đặc biệt là những năm đầu chiến dịch, bộ đội chỉ có cõng gạo trên vai, sau đó mới có xe thồ.


Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, tháng 7 năm đó, bác được Quân đoàn cử đi học tại Học viện Chính trị Quân đội (đào tạo cán bộ trung, cao cấp ngoài Bắc). Sau khi tốt nghiệp, bác Thanh được về công tác tại Tạp chí Quốc phòng với cương vị Trưởng phòng Trị sự-Hành chính cho đến khi về hưu. Về hưu nhưng phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bác tiếp tục tham gia 7 năm Chủ tịch Hội cha mẹ học sinh Trường THCS Nhật Tân; Ủy viên Mặt trận Tổ quốc phường. Bác luôn giáo dục cho con, cháu những điều hay, lẽ phải, không ngừng rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội, cùng chung tay gìn giữ hoà bình-điều mà các thế hệ đi trước như bác đã từng đổ biết bao máu, xương để đổi lại, xây dựng gia đình ngày một ấm no, hạnh phúc.


Trần Hiền-Thế Hà

Tin khác