60 năm cây đào dâng Bác
Vùng đất và con người Nhật Tân quê tôi được hình thành từ cổ xưa, nằm ven bờ tả ngạn sông Hồng phù sa đỏ mọng, bên bờ hồ Tây thơ mộng. Nằm cách trung tâm Thủ đô 7 km về phía Tây Bắc, Nhật Tân trước năm 1945 có diện tích tự nhiên 341,2 ha với khoảng trên hai vạn dân. Ngày nay có 356,2 ha với gần 10.000 nhân khẩu.

Đào Nhật Tân khoe sắc đón Xuân.
Thời vua Lê Hiển Tông (1740-1786) gọi là phường Nhật Chiêu, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên. Đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX), Nhật Chiêu thuộc tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức. Sang thời Bảo Đại (1926-1942), Nhật Chiêu được đổi thành Nhật Tân thuộc tổng Thượng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông. Năm 1942, huyện Hoàn Long sát nhập vào Hà Nội. Nhật Tân có được giao thông thuỷ bộ thuận lợi. Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ làng xã, nhân dân Nhật Tân đã hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp. Truyền thống lao động sản xuất và đấu tranh với thiên nhiên. Truyền thống yêu nước kiên cường dũng cảm đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Kế thừa và phát huy những truyền thống đó, từ ngày có Đảng lãnh đạo, nhân dân Nhật Tân một lòng theo Đảng, góp sức cùng quân và dân giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Vinh dự lớn lao, ngày 25/9/2010, Nhật Tân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Một vùng quê giàu những truyền thống trên lại may mắn thay là nơi thắm sắc bích đào. Nói đến cây đào xứ Bắc không thể không nói đến làng đào Nhật Tân. Nói đến đào Nhật Tân không thể không nhớ tới cây đào dâng Bác Hồ Tết năm 1957. Đã 60 mùa Xuân trôi qua, vậy mà giờ đây, mỗi người dân Nhật Tân từ già tới trẻ vẫn nhớ như in câu chuyện về cây đào dâng Bác. Hồi đó vào dịp áp Tết, trong một buổi họp xã viên để bàn về sản xuất vụ Đông- Xuân và chuẩn bị đón Tết vui tươi, tiết kiệm theo lời kêu gọi của Cụ Hồ. Năm ấy được mùa đào, nhiều vườn đào nở hoa đúng vụ, trong không khí phấn khởi, cuối buổi họp có một số xã viên nêu ý kiến. Đại thể: Làng ta có nghề trồng hoa đào lâu đời, cả Hà Thành chỉ có nơi đây từ xưa biết trồng đào, người nội thành Tết đến chỉ tìm đến làng mua đào về chơi Tết. Ngày nay đời sống khấm khá là nhờ ơn Đảng, Bác Hồ vậy chúng ta nên dâng Bác sản vật quê nhà. Không ngờ ý kiến đưa ra rất hợp lòng mọi người và được nhiệt liệt hưởng ứng. Thống nhất rồi, nhưng theo đánh giá của một số người trồng đào tài giỏi trong làng, để có một cây đào đẹp dâng Bác thì công phu lắm. Ngày đó vườn tược của làng còn rộng, đào bạt ngàn, vườn nào cũng đẹp, cho nên đi ngắm, chọn quả phải mất ngày mất buổi. Cuối cùng đi đến ý kiến chung: Cử một số nghệ nhân trồng đào, có con mắt chọn đào, đến vườn nhà nào có cây đẹp nhất, rồi chấm điểm và sau đó vào chung kết. Không ngờ cây đào vườn nhà cụ Trần Văn Bất lọt vào mắt của tất cả những người đi chọn. Sau khi mọi người ngắm cây đào bích có độ tuổi 3 năm đạt được tiêu chuẩn: Thân thẳng, vành tán tròn, nụ to, hoa nở dày đều được chọn dâng Người. Sau khi đánh cây đào và đưa lên một chiếc xe con, sáng 28/1/1957 làng cử 10 cụ tiêu biểu đại diện gồm 7 cụ ông, 3 cụ bà tuổi đều trên 60 đến 70 đi theo. Gồm các cụ: Nguyễn Văn Tư, Chu Văn Thường, Chu Văn Tuế, Trần Văn Liêm, Nguyễn Văn Tịch, Nguyễn Văn Ruộng, Nguyễn Văn Thục, Nguyễn Thị Chúc, Chu Thị Bảng và Nguyễn Thị Cẩn.
Sau khi các cụ hoàn thành nhiệm vụ của làng giao trở về đã kể lại cho mọi người trong làng nghe: Chiếc xe con chở cây đào và các cụ lão nông vào Phủ Chủ tịch. Được sự giúp đỡ của các bác phục vụ trong Phủ Chủ tịch các cụ cẩn trọng chuyển từ trên xe xuống một cây đào và hai cây quất vào trong phòng khách. Từ phòng bên Bác Hồ nhẹ nhàng bước ra chào đón mọi người, rồi Bác đến bên cây hoa ngắm nhìn. Bác nâng niu sửa lại vài cành hoa đào khi đi trên đường đang bị rối vào nhau. Nhìn Bác Hồ rất vui, mọi người trong đoàn hôm đó cũng vui lây và xúc động lắm. Tất cả cứ đứng ngây ra nhìn ngắm Bác thật lâu. Bác Hồ cảm động lắm. Bác khen đào, quất đẹp nhưng sao lại đánh cả gốc đi cho phí (thời kỳ đó đào thường được cưa cành cách gốc vài chục phân đem đi bán, để lại gốc cho năm sau, chứ không như bây giờ chơi đào cả cây). Bác còn căn dặn các cụ phải gương mẫu dạy dỗ con cháu và đón Tết thật vui nhưng phải tiết kiệm. Rồi tự tay Bác phát thiếp mừng năm mới cho từng cụ. Cuối cùng Bác căn dặn: “Sang năm xã không phải tặng hoa cho Bác nữa. Tự Bác sẽ vun trồng cây hoa này để chơi...”.
Minh Nguyệt



